Chiến Thuật Khi Gặp Một Sếp Kém Cỏi..

Rất thông thường, người ta có thể tưởng thưởng cho một kỹ thuật viên
lành nghề hay một công nhân bậc cao bằng cách chuyển anh ta sang một
chức vụ quản lý. Và trong nhiều trường hợp, đó không chỉ là thiệt đơn m
còn là thiệt kép. Doanh nghiệp có thể mất một kỹ thuật viên lành nghề để
có một tay quản lý tồi. Và trong nhiều trường hợp, cấp dưới của anh ta
sẽ gặp phải một cơn ác mộng vì phải làm việc dưới sự chỉ huy của một ông
sếp tệ hại. Chuyện này khá phổ biến trong lĩnh vực công nghệ thông tin
(CNTT), và đó cũng chỉ là một trong vô số viễn cảnh về những ông sếp tệ
hại.
Read More

Cài đặt và sử dụng máy ảo VMware

giaodien.gif
Giới Thiệu: máy ảo là tất cả những gì cần để chạy nhiều gói phần mềm tiêu chuẩn. Mỗi máy ảo đều có thể chạy các chương trình riêng của mình và cách ly hòan tòan với các máy khác. Máy ảo chỉ sử dụng 1 phần nào đó nhỏ nhoi trên đĩa cứng thật của bạn. Các máy ảo này cũng có thể sử dụng bàn phím, chuột, máy in, và các thiết bị khác mà không gây ra xung đột, và một tính năng khá hay nữa là có thể giả lập cả một mạng máy tính, có thể truền dữ liệu từ máy thật sang máy ảo . Các máy ảo có thể thực hiện bằng máy tính được trang bị bộ vi xử lý (CPU) đủ mạnh và bộ nhớ truy cập ngẩu nhiên (RAM) đủ lớn . Phần mềm này rất hữu ích cho những "vọc sĩ máy tính” muốn dùng thử phần mềm mà không muốn ảnh huởng tới máy.... Read More

Tạo đĩa ảo trong Windows XP mà không cần phần mềm

Bạn thường xuyên sử dụng một thư mục nào đó nhưng nó lại nằm sâu trong một số thư mục mẹ khác, cho nên mỗi khi truy cập bạn lại phải trải qua nhiều bước rất mất thời gian.

Làm thế nào để giải quyết khó khăn này: tạo một shortcut cho thư mục trên Destop ư (nghe ra cũng có lý, nhưng quả thật không mấy khả quan khi số lượng Shortcut này tăng lên quá nhiều khi bạn Setup chương trình vào máy), bài viết này sẽ hướng dẫn cho bạn một phương pháp khác "thú vị và chuyên nghiệp" hơn đó là tạo một ổ đĩa ảo liên kết ánh xạ đến thư mục của bạn...

Cách thực hiện như sau:... Read More

Các lỗi thường gặp khi khởi động máy tính

Các lỗi thường gặp khi khởi động máy tính
128 Not Ok, Parity Disable:
Lỗi trục trặc RAM, tốc độ RAM không tương thích với tốc độ CPU hoặc Mainboard có vấn đề.

8024 Gate - A20 Error:
Lỗi bàn phím (có thể do kẹt phím) làm cho chip điều khiển bàn phím phát tín hiệu liên tục lên đường địa chỉ 20 đến bộ vi sử lý.

Bad or Missing Command Interpreter:
Lỗi không tìm thấy tập tin lệnh của hệ điều hành, thường là COMMAND.COM.

Bad Partition Table:
Lỗi do đĩa cứng được tạo và phân vùng partition bằng lệnh fdisk không đúng.

C: Drive Error:
Lỗi do các thông số đĩa cứng không được khai báo đúng trong CMOS.

Cmos Battery Stage Low:
Lỗi do hết Pin nuôi mạch đồng hồ và CMOS trên mainboard, cũng có thể do gắn Jumper chân xóa CMOS không đúng.

Cmos Checksum Failure:
Lỗi cho biết các dữ liệu của CMOS bị hỏng, có thể do hết Pin nuôi mạch đồng hồ và CMOS.

Cmos Display Type Mismatch:
Lỗi do khai báo không đúng Card hiển thị trong CMOS.

Cmos Memory Size Mismatch:
Lỗi do hư các chip nhớ hoặc RAM cấm không chắc.

Disk Boot Error, Replace And Strike To Retry:
Lỗi do máy tính không tìm thấy đĩa có thể khởi động.

Disk Drive 0 Seek Failure:
Lỗi do dây cáp Data của ổ đọc đĩa lỗi, hoặc do mạch điều khiển bị lỗi.

Disk Boot Failure:
Lỗi do đĩa khởi động bị hỏng, thay đĩa khởi động khác

Disk Read Failure - Strike F1 To Retry Boot:
Lỗi do đĩa hỏng, cắm nhằm cáp, hoặc ổ đọc đĩa mềm hỏng.

FDD Controller Failure:
Lỗi do ổ đọc đĩa mềm hoặc mạch điều khiển đĩa mềm hỏng, cũng có thể card I/O (đối với những máy 486 trở về trước) cắm không được chắc. Đồng thời, nếu thấy đèn ổ đọc đĩa mềm sáng liên tục thì có thể khẳng định là do cắm ngược đầu cáp data.

Hard Disk Failure:
Lỗi do một trong các nguyên nhân sau: mạch điều khiển đĩa cứng hỏng, dây nguồn nuôi không gắn vào ổ cứng, cáp data cắm lộn đầu, hoặc Jumper chọn master/sleve không đúng.

Keyboard Stuck Key Failure hay Keyboard Error:
Lỗi do cắm bàn phím hỏng, hoặc kẹt phím.

RAM Test Address Failure:
Lỗi do chip dùng địa chỉ hóa bộ nhớ hỏng, vì các chip này được tích hợp trên mainboard, nên phải sửa hoặc thay mianboard.

Serial Port Test Failure:
Lỗi do cổng nối tiếp và cổng song song không đáp ứng các phép thử POST.

Math Coprocessor Failure:
Lỗi do bộ đồng xử lý toán học bị trục trặc.

Máy báo "Thiếu File SYSTEM.DAT, SYSTEM.INI, USER.DAT hoặc WIN.INI" và sau đó là câu "Vui lòng Setup lại hệ điều hành": lỗi này là do file SYSTEM.DAT, SYSTEM.INI, USER.DAT hoặc WIN.INI không còn trong thư mục WINDOWS của hệ điều hành. Cách khắc phục: Khởi động lại hệ điều hành bằng đĩa khởi động, vào thư mục WINDOWSSYSBCKUP chép file rb00x.cab mới nhất (có ngày tháng gần nhất) ra đĩa mềm, với x nhận gía trị từ 0-5. giải nén file này và copy những file bị thiếu vào thư mục WINDOWS, rồi khởi động lại máy tính.

Các Địa Chỉ An Toàn Hệ Thống

Những cuộc tấn công của bọn tin tặc đang buộc các công ty thương mại điện tử kiểm tra lại các biện pháp an ninh. Ðiều đó làm cho những người dùng thông thường cũng bắt đầu quan tâm tới vấn đề an toàn cho hệ thống máy tính. Qua các Website chuyên về an ninh dưới đây, các bạn có thể hiểu rõ hơn về các điểm yếu của mạng máy tính, đánh giá những yếu kém của công ty mình và ngăn chặn những nguy cơ tiềm ẩn.

CERT Coordination : http://www.cert.org/

Ðây là một trong những nguồn tốt nhất về an ninh trên Internet. Bảng tin "Top News" cho bạn biết về các sự cố về an ninh, các kỹ thuật mới và thông tin mới nhất từ các nhà cung cấp. Phía bên trái của trang bao gồm các phần: thông tin mới nhất về an ninh, truy cập Hushmail và các diễn đàn trao đổi về các câu hỏi liên quan tới an ninh trên mạng máy tính. Nút Security Search sẽ đưa bạn đến một trang thú vị với các tiêu đề như Virus Research (nghiên cứu virus), Vulnerabilitiess (những điểm yếu) và Cryptography (mật mã học). Ðừng bỏ qua phần Whitepapers (sách trắng), ở đó có thông tin về các vấn đề an ninh trên Linux, UNIX, và Windows NT.

CERT Coordination Center : http://www.cert.org/

Học Viện Công nghệ Phần mềm Carnegie Mellon nghiên cứu các điểm yếu của Internet, theo dõi các sự cố về an ninh và đưa ra các cảnh báo về an ninh. Họ còn phát triển thông tin giúp bạn nâng cao an ninh của mạng máy tính và tổ chức các khoá học về quản lý các sự cố an ninh.

CERT Coordination Center là một phần của trung tâm nghiene cứu và phát triển có tên là Survivable Systems Initiative tại học viện Carnegie Mellon, trung tâm này được tài trợ một phần bởi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Các bạn có thể đăng ký vào để được tư vấn qua thư tại trang Web .

CERT, một trong những trung tâm đầu tiên nghiên cứu về những mối đe doạ an ninh trên Internet, được bắt đầu bởi Cục quản lý các dự án nghiên cứu ứng dụng vào quốc phòng (Defense Applied Research Projects Agency) vào tháng 12 năm 1998 sau khi sự cố Morris Worm xảy ra (khi đó loài sâu này đã làm tê liệt 10% các máy tính nối vào Internet).

Trang Web về an ninh của Dave Dittrich : http://www.washington.edu/People/dad

Gần đây tạp chí The Wall Street Journal mô tả Dave Dittrich, một giáo sự kiêm kỹ sư phần mềm ở trường Ðại học Washington là chuyên gia hàng đầu thế giới về những cuộc tấn công gây ra việc từ chối phục vụ (denial- of-service hay viết tắt là DoS). Ngoài các thông tin về DoS, trang Web của Dave Dittrich còn giải thích về các điểm yếu của TCP/IP, đưa ra danh sách các yếu tố cần kiểm tra an ninh của UNIX security và giải thích về các công cụ DoS.

Các thông tin về DoS do Dittrich soạn thảo đã thu hút khá nhiều sự chú ý sau khi xảy ra cuộc tấn công kiểu này vào Yahoo!, ZDNet và các site khác, do đó ông đã tạo thêm một trang Web riêng chuyên về DoS (trong đó bao gồm cả thông tin về các cuộc tấn công kiểu DoS gần đây nhất). Ðịa chỉ của trang thứ hai này là .

Federal Computer Incident Response Capability : http://www.fedcirc.gov/

Mặc dù hình thức bên ngoài của trang Web này không được hấp dẫn lắm nhưng bên trong nó chứa đựng rất nhiều thông tin và các công cụ có thể tải xuống liên quan tới an ninh máy tính. Bạn có thể tìm được các công cụ để tìm kiếm các điểm yếu của máy chủ, các phần mềm sửa lỗi cho các hệ điều hành và các cách để phát hiện sự xâm nhập trái phép

The National Security Institutes Security Resource Net : http://www.nsi.org/compsec.htm

Site này cung cấp một danh sách lớn các cảnh báo, các chương trình và mối nguy hiểm tiềm ẩn đối với an toàn máy tính. Trên đó còn chứa các liên kết tới tạp chí Information Security.

Purdue University Computer Operations, Audit and Security : http://www.cerias.purdue.edu/coast

Trang chủ COAST là một kho tàng thông tin về an ninh. Trong đó bao gồm một danh sách sắp xếp theo bảng chữ cải các dự án và công cụ, các thông tin về cuộc hội thảo của trường, COAST archive (được quảng cáo là nguồn lưu trữ đơn lẻ lớn nhất trên Internet về các loại tài liệu, công cụ, tiêu chuẩn, báo cáo và các thông tin khác liên quan tới an ninh máy tính, luật, đối phó với các tình huống bất trắc và bảo vệ thông tin).

Một mục khác cũng đáng lưu ý trên Website này là Security hotlist http://www.cerias.purdue.edu/coast/hotlist/ ở đó có thể tìm thấy tập hợp toàn diện nhất các liên kết liên quan tới an ninh trên Internet

Network Associates Inc : http://www.nai.com/

Ðây là địa chỉ của công ty sản xuất ra các sản phẩm McAfee, Sniffer Technologies, và Pretty Good Privacy. Tại đây lưu danh sách các Virus tại Trung tâm thông tin về Virus của công ty. Các bạn có thể kích vào mục Virus Library bên dưới Latest Virus Info (thông tin mới nhất về virus).

Các bạn cũng có thể tìm kiếm thông tin chi tiết về các loại Virus tại các trang IBM Antivirus Online page và Symantecs Anti Virus Research Center

Boran Consulting : http://www.boran.com/

Ðây là website của một công ty Thuỵ Sỹ do Sean Boran, một chuyên gia về an ninh máy tính kiêm lập trình viên và quản trị mạng thành lập. Trang Web này chuyên về an ninh máy tính và mạng. Ðáng chú ý nhất là Borans IP Security Cookbook , được Boran mô tả như một bản hướng dẫn về an ninh máy tính và mạng chủ yếu phục vụ cho những người quản trị hệ thống và lập trình viên

NTBugtraq: http://www.ntbugtraq.com/

Nếu bạn gặp rắc rối với Windows NT hay đang lo lắng về các lỗ hổng an ninh thì NTBugtraq.com chính là nơi tốt nhất để tìm kiếm sự trợ giúp. Hãy nhớ xem qua cả hai phần Fixes (sửa lỗi) và Download (tải xuống).

Fortify : http://www.fortify.net/

Ðịa chỉ này (miễn phí cho những người dùng phi thương mại) cung cấp thông tin về các sản phẩm mã hoá thiết kế cho Netscape. Những người dùng Netscape Navigator và Netscape Communicator có thể nhận được công cụ mã hoá 128-bit ở đây.

Gibson Research : http://www.grc.com/

Trang web này cung cấp dịch vụ kiểm tra trực tuyến giúp xác định các lỗ hổng về an ninh. Phần mềm miễn phí Opt Out ở đó cho phép người dùng phát hiện và loại bỏ các phần mềm được cài đặt trên máy của họ để thu thập các thông tin cá nhân.

Internet Security Systems : http://www.iss.net/

Ðịa chỉ này chuyên về quản trị an ninh mạng và mô tả những công ty hàng đầu về an ninh như Internet Scanner, SAFEsuite software. Ngoài ra, trang Web này còn cung cấp các thông tin về an ninh và hướng dẫn bạn tới các hệ thống an ninh dành riêng cho các hệ điều hành cụ thể.

Microsoft Security Advisor : http://www.microsoft..com/security/

Trang Tư vấn an ninh của Microsoft có liên kết tới các bản tin an ninh, các hướng dẫn kiểm tra và đánh giá các sản phẩm của Microsoft.

Sans Institute onlline : http://www.sans.org/

Công ty này cung cấp các cảnh báo, tin tức cập nhật, nghiên cứu và các ẩn phẩm an ninh. Bạn có thể tìm kiếm thông tin về các dự án, sự kiện và ấn phẩm về an ninh. Danh sách tham khảo trên trang Web này cũng rất đáng quan tâm.

Security : http://www.security.com/

Security đưa ra các đánh giá về an ninh mạng, phần cứng, phần mềm, các kiến trúc và thiết kế, triển khai Public Key Infrastructure. Công ty này còn thiết lập các chính sách an ninh và cung cấp dịch vụ thiết kế cho các ứng dụng, hệ thống và mạng. Từ trang chủ Security, bạn có thể truy cập Packet Storm , một phân nhánh của nó. Packet Storm cung cấp các thông tin và dịch vụ an ninh miễn phí, ngoài ra còn có danh sách các trang Web về an ninh.

Trend Micro Inc. : http://www.antivirus.com/

Công ty này cung cấp các công cụ để phát hiện virus, những đoạn mã phá hoại và những nguy cơ an ninh khác từ Internet. Trên trang chủ này còn có các liên kết đưa người dùng tới những sản phẩm an ninh dành cho các doanh nghiệp.

Zone Labs : http://www.zonelabs.com/

Zone Labs cung cấp phần mềm bức tường lửa miễn phí cho những người dùng cá nhân. Phần mềm miễn phí ZoneAlarm theo dõi tất cả các hoạt động trên máy bạn, kể cả những lần ứng dụng định kết nối với Internet

Nguồn từ Blog ""IT Đất Nghệ""

Tìm lại mật khẩu của tài khoản “Log On” trong windows XP

Vì nhiều lý do bạn có thể bị mất mật khẩu của tài khoản đăng nhập vào windows (do quên mất, do bị thay đổi ngoài ý muốn), bạn phải làm gì?

Nếu tài khoản bị mất mật khẩu không có quyền quản trị cao nhất (adminstrator) bạn có thể đăng nhập vào tài khoản có quyền Administrator để thay đổi. Cụ thể các bước tiến hành là truy cập vào Control Panel --> User Accounts --> chọn tài khoản cần Reset mật khẩu sau đó chọn "Change the password" hoặc "Remove the password" là thành công.

Trường hợp bạn quên mật khẩu của tài khoản không phải tên Administrator. Bạn có thể tự khắc phục bằng cách sau:

- Khởi động lại máy tính và khi Windows hiển thị màn hình Logon, bấm tổ hợp phím Ctrl + Alt + Del 2 lần, một màn hình login khác sẽ hiện ra. Trong mục Username bạn gõ vào là Administrator. Và mục Password bạn để trống sau đó bấm Enter. Bình thường khi cài đặt Windows thì mật khẩu của tài khoản Administrator thường được để trống nên bạn có thể dùng cách trên để login vào Windows

- Sau khi login được vào Windows, bạn kích phải chuột vào My Computer -> Manage. Một cửa sổ quản trị hiện lên, bạn chọn vào mục Local Users and Groups -> Users. Bên phải sẽ hiển thị ra danh sách của tất cả các tài khoản có trong máy tính của bạn. Chọn tài khoản bạn quên mật khẩu, kích phải chuột chọn Set Password. Sau đó nhập lại Password mới cho tài khoản đó rồi bấm OK.

- Khởi động lại máy tính và đăng nhập lại tài khoản với mật khẩu mới là được.

Trường hợp tài khoản quên mật khẩu là Administrator thì cách tháo gỡ phức tạp hơn. Bạn sử dụng công cụ Offline NT Password & Registry của Pnordahl để Reset mật khẩu của tài khoản Administrator một cách đơn giản và hiệu quả.

Công cụ này áp dụng cho các hệ điều hành Windows 2000, XP, 2003 chạy hệ thống định dạng tập tin FAT32 và NTFS và bạn chỉ cần trang bị một chiếc đĩa mềm là đủ.

Cách thức hoạt động của công cụ này là sử dụng các tập tin khởi động tối thiểu của hệ điều hành Linux và tiến hành truy nhập vào SAM (%Systemroot%System32configSAM) là nơi lưu trữ mật khẩu của người dùng trong hệ điều hành Windows, sau đó chạy các lệnh để Reset mật khẩu. Tải công cụ này về máy tính theo địa chỉ sau: http://home.eunet.no/~pnordahl/ntpasswd/bd050303.zip

Các bước tạo đĩa mềm để thực hiện:

- Cho đĩa mềm vào ổ
- Chạy tập tin install.bat
- Nhập vào tên ổ đĩa mềm tại dấu nhắc: "Enter target diskette drive:" (thông thường là A:smile:

Sau đó chờ công cụ tiến hành chép các tập tin cần thiết vào đĩa mềm. Sau khi chép xong hệ thống báo bấm phím bất kỳ để kết thúc và chúng ta đã có chiếc điã mềm chứa công cụ để thực hiện.

Các bước tiến hành Reset mật khẩu

Đưa đĩa mềm vào máy tính cần Reset mật khẩu và khởi động từ đĩa mềm này.
Chờ hệ thống khởi động và sau khi khởi động chúng ta tới màn hành để thực hiện

Which disk contains your Windows system?
=========================================================
. Step ONE: Select disk where the Windows installation is
=========================================================
Disks:
Disk /dev/ide/host0/bus0/target0/lun0/disc: 2147 MB, 2147483648 bytes
NT partitions found:
1 : /dev/ide/host0/bus0/target0/lun0/part1 2043MB Boot

Please select partition by number or
a = show all partitions, d = automatically load new disk drivers
m = manually load new disk drivers
l = relist NTFS/FAT partitions, q = quit
Select: [1]

Tại màn hình này công cụ tự động rò tìm ra các phân vùng trên các đĩa cứng của hệ thống và chúng ta chỉ việc chọn phân vùng đã cài đặt Windows. (ở tình huống này chúng tôi chọn 1) Tiếp theo màn hình hiện ra các lựa chọn để thực hiện.

Selected 1
Mounting on /dev/ide/host0/bus0/target0/lun0/part1
NTFS volume version 3.1.
Filesystem is: NTFS
=========================================================
. Step TWO: Select PATH and registry files
=========================================================
What is the path to the registry directory? (relative to windows disk)
[windows/system32/config] :
-r-------- 1 0 0 262144 Jan 12 18:01 SAM
-r-------- 1 0 0 262144 Jan 12 18:01 SECURITY
-r-------- 1 0 0 262144 Jan 12 18:01 default
-r-------- 1 0 0 8912896 Jan 12 18:01 software
-r-------- 1 0 0 2359296 Jan 12 18:01 system
dr-x------ 1 0 0 4096 Sep 8 11:37 systemprofile
-r-------- 1 0 0 262144 Sep 8 11:53 userdiff
Select which part of registry to load, use predefined choices
or list the files with space as delimiter
1 - Password reset [sam system security]
2 - RecoveryConsole parameters [software]
q - quit - return to previous
[1] :

Chọn 1 để thực hiện Reset password và màn hình tiếp theo hiện ra như sau

=========================================================
. Step THREE: Password or registry edit
=========================================================
chntpw version 0.99.2 040105, © Petter N Hagen
[.. some file info here ..]
* SAM policy limits:
Failed logins before lockout is: 0
Minimum password length : 0
Password history count : 0
======== chntpw Main Interactive Menu ========

Loaded hives:
1 - Edit user data and passwords
2 - Syskey status & change
3 - RecoveryConsole settings
- - -
9 - Registry editor, now with full write support!
q - Quit (you will be asked if there is something to save)
What to do? [1] -> 1

Tiếp tục chọn 1. Đó màn hình sẽ hiện ra các User của hệ thống

What to do? [1] -> 1
===== chntpw Edit User Info & Passwords ====
RID: 01f4, Username:
RID: 01f5, Username: , *disabled or locked*
RID: 03e8, Username: , *disabled or locked*
RID: 03eb, Username:

, *disabled or locked*
RID: 03ea, Username: , *disabled or locked*
Select: ! - quit, . - list users, 0x - User with RID (hex)
or simply enter the username to change: [Administrator]

Trong trường hợp này máy của chúng tôi đang sử dụng User Administrator chúng tôi nhấp Enter để lựa chọn. (Bạn có thể chọn User khác để Reset bằng cách gõ vào tên User đó) và màn hình tiếp theo như sau:

RID : 0500 [01f4]
Username: Administrator
fullname:
comment : Built-in account for administering the computer/domain
homedir :
Account bits: 0x0210 =
[ ] Disabled | [ ] Homedir req. | [ ] Passwd not req. |
[ ] Temp. duplicate | [X] Normal account | [ ] NMS account |
[ ] Domain trust ac | [ ] Wks trust act. | [ ] Srv trust act |
[X] Pwd don't expir | [ ] Auto lockout | [ ] (unknown 0x08) |
[ ] (unknown 0x10) | [ ] (unknown 0x20) | [ ] (unknown 0x40) |

Failed login count: 0, while max tries is: 0
Total login count: 3
* = blank the password (This may work better than setting a new password!)
Enter nothing to leave it unchanged
Please enter new password: *

Tại màn hình này bạn nhập vào Password mới cho User administrator đã chọn (các bạn lên chọn * để Reset mật khẩu về trắng - đây là khuyến cáo của chương trình này). Sau đó hệ thống hỏi bạn có thực sự muốn Reset mật khẩu không

Do you really wish to change it? (y/n) [n] y

Loaded hives:
1 - Edit user data and passwords
2 - Syskey status & change
3 - RecoveryConsole settings
- - -
9 - Registry editor, now with full write support!
q - Quit (you will be asked if there is something to save)
What to do? [1] -> q

Chọn Y để đồng ý và chờ một chút để công cụ tiến hành thực hiện. Sau đó màn hình sẽ quay về các lựa chọn. Chọn q để kết thúc quá trình Reset và màn hình tiếp theo hiện ra như sau và tiếp tục chọn y để kết thúc.

Hives that have changed:
# Name
0 - OK
=========================================================
. Step FOUR: Writing back changes
=========================================================
About to write file(s) back! Do it? [n] : y
THIS IS YOUR LAST CHANCE! If you answer y here there will be a write to disk!
Writing sam

NOTE: A disk fixup will now be done.. it may take some time

Mounting volume... OK
Processing of $MFT and $MFTMirr completed successfully.

NTFS volume version is 3.1.

Setting required flags on partition... OK

Going to empty the journal ($LogFile)... OK

NTFS partition /dev/ide/host0/bus0/target0/lun0/part1 was processed successfully.
NOTE: Windows will run a diskcheck (chkdsk) on next boot.
NOTE: this is to ensure disk intergity after the changes

***** EDIT COMPLETE *****
You can try again if it somehow failed, or you selected wrong
New run? [n] : n

Cuối cùng bạn chọn n khi công cụ hỏi bạn có muốn thực hiện lại quá trình trên không và đưa đĩa mềm ra khởi động lại. Và bây giờ User administrator có mật khẩu trắng và bạn lại tiếp tục đăng nhập vào hệ thống bình thường.

Chú ý: Ngoài việc thực hiện trên đĩa mền bạn có thể tạo ra đĩa CD để thực hiện các thao tác trên. Để tạo đĩa CD bạn tham khảo thêm tại địa chỉ: http://home.eunet.no/~pnordahl/ntpasswd/

Giải quyết trục trặc sau khi cài phần mềm mới

Sau khi cài một phần mềm mới, máy tính của tôi trở nên chậm và không ổn định. Không những vậy, việc gỡ cài đặt chương trình này cũng không thể khắc phục được hiện tượng này. Liệu có biện pháp nào an toàn hơn để cài đặt phần mềm không?

Thực tế cho thấy, nhiều tiện ích cài đặt phần mềm có khả năng làm thay đổi đáng kể các cấu hình quan trọng của Windows, và làm tăng nguy cơ gây ra "gục ngã” của hệ thống. Đồng thời, các tiện ích gỡ bỏ cài đặt (uninstall) cũng gần như không thể sửa được lỗi này. Hãy tham khảo các bước được trình bày bên dưới, chúng sẽ giúp bạn tạo an toàn cho quá trình cài đặt phần mềm.

Lựa chọn cẩn thận: Trước khi cài đặt bất kỳ ứng dụng nào, bạn cần đọc thật kỹ các bài viết đánh giá, trao đổi với những ai đã từng dùng qua hay biết rõ về ứng dụng này, và tìm kiếm những ý kiến phản hồi (comment) tại các diễn đàn mạng (như groups.google.com chẳng hạn). Sau đó, hãy tự hỏi chính mình rằng liệu những lợi ích mà ứng dụng này đem lại có đáng giá hơn mối nguy hiểm đang rình rập bạn hay không.

Gỡ cài đặt phần mềm bằng Add or Remove Programs của Windows.

Bạn nên nhớ đừng bao giờ cài đặt một ứng dụng mới hay cập nhật bản nâng cấp cho đến khi chúng đã xuất hiện được vài tháng. Quãng thời gian này thường được các hãng sản xuất nhận thông tin phản hồi từ người dùng, sau đó tiến hành "vá” các lỗi hay thậm chí là lỗ hổng bảo mật vừa được phát hiện.

Và bạn cũng đừng vội khẳng định một chương trình nào đó thực sự an toàn vì được tạo ra bởi một hãng phần mềm nổi tiếng. Điều này có thể dễ dàng nhận ra với các phần mềm của Microsoft và Symantec.

Đề phòng bất trắc: Công việc quan trọng đầu tiên mà bạn cần thực hiện trước khi cài đặt một phần mềm mới vào máy tính là tiến hành sao lưu lại cấu hình hiện tại của Windows. Tính năng System Restore trong Windows XP sẽ tự động tạo ra một cột mốc hồi phục (restore point) trước khi khởi động mỗi quá trình cài đặt ứng dụng mới, nhưng để an toàn hơn, bạn hãy thực hiện việc này một cách thủ công: nhấn Start -> All Programs -> Accessories -> System Tools -> System Restore -> Create a restore point -> Next, và thực hiện các bước còn lại theo hướng dẫn.

Việc cài đặt một ứng dụng mới cũng có thể dẫn đến việc "phá hoại" các thông số Registry và trong vài trường hợp sẽ gây nên sự mất ổn định của hệ thống hoặc thậm chí gây treo máy. Do vậy, hãy tiến hành sao lưu lại toàn bộ Registry của Windows trước khi tiến hành công việc, bạn có thể sử dụng công cụ sẵn có trong tiện ích Registry Editor (chọn Start.Run, gõ vào lệnh regedit và ấn ) hay tiện ích của hãng thứ 3 như Emergency Recovery Utility NT. Đề biết thêm nhiều thủ thuật tinh chỉnh các thông số phức tạp này, bạn có thể tham khảo mục Phương thuốc Registry trong bài biết "Giải mã Windows XP".

Đánh giá sự cố: Sau khi cài đặt xong chương trình, bạn hãy kiểm tra các biểu tượng mới xuất hiện trên khay hệ thống. Nhiều khả năng, chương trình mới này đã bổ sung vài tiện ích không cần thiết – và thường rất nguy hiểm – vào danh sách ứng dụng được khởi chạy cùng lúc với quá trình khởi động của Windows.

Ngoài ra, bạn đừng cài đặt thêm bất kỳ chương trình nào khác vào máy tính trong khoảng vài ngày (hoặc lâu hơn càng tốt) để nếu chẳng may xảy ra trục trặc, việc xác định nguyên nhân cũng sẽ dễ dàng hơn.

Rút lui nếu cần: Nếu chương trình vừa được cài đặt không làm hài lòng bạn, hãy xóa chương trình này khỏi hệ thống bằng cách sử dụng tiện ích gỡ bỏ cài đặt đi kèm (thường tìm thấy trong trình đơn Start -> All Programs). Nếu không tìm thấy tiện ích gỡ bỏ cài đặt, bạn chọn Start -> Control Panel -> Add or Remove Programs (hay Start -> Settings -> Control Panel -> Add/Remove Programs ở các phiên bản Windows khác), chọn ứng dụng cần xóa trong danh sách vừa xuất hiện, và nhấn Remove để chạy tiện ích gỡ bỏ cài đặt (Hình 1). Tính năng Add/Remove Programs và biểu tượng từ trình đơn Start dù khác nhau nhưng cùng khởi chạy tiện ích gỡ bỏ cài đặt.

Nếu cách trên không thể loại bỏ chưong trình vừa chọn, bạn hãy chạy tiện ích System Restore để đưa Windows quay lại hiện trạng trước khi tiến hành cài đặt chương trình đó. Nếu tiếp tục không thành công, bạn cần sử dụng tuỳ chọn gỡ bỏ cài đặt trong tiện ích ERUNT được giới thiệu ở phần trên.

Cũng xin lưu ý, việc phục hồi Registry từ một bản sao lưu cũ có thể gây mất vài thông số cài đặt, hoặc làm vô hiệu hóa những chương trình được cài đặt sau khi thực hiện sao lưu đó. Đây là một lý do khác để bạn cần chờ đợi một khoảng thời gian giữa các lần cài đặt chương trình.

Yahoo!360 vs Opera Blog

Hiện nay phong trào phố-rùm (forum) đang lắng dịu, thay vào đó là “nhà nhà làm blog, người người làm blog”. Blog free trên internet rất nhiều, có thể kể đến là: Blogger, WordPress, Yahoo 360, Opera, v.v… Nhưng phổ biến hơn cả (vietnamese community) là Yahoo 360 và Opera Blog (OB). Bài viết này sẽ đưa ra vài đánh giá về 2 “ông trùm” này.

1. Đánh giá chung
Nhìn chung, xét về tính phổ biến thì Y!360 vượt trội hơn Opera, đơn giản Y!Mail phổ biến hơn Opera mail. Tuy nhiên không vì thế mà cộng đồng OB thất thế. Hầu hết người châu Á, đặc biệt là Trung Quốc sử dụng OB rất đông và cộng đồng OB Vietnamese cũng không ngoại lệ. Y!360 có lợi thế cạnh tranh về số lượng user là mọi người đã có sẵn account Y!Mail, hơn nữa tâm lý người làm blog bao giờ cũng thích blog của mình được nhiều bạn bè biết đến (thể hiện cái tôi).

Xét về tính tiện lợi bao gồm tính tương tác với người sử dụng, giao diện, chức năng quản lý, v.v… OB lại hơn hẳn Y!360. Việc đăng ký sử dụng OB khá đơn giản, chỉ cần khai báo vài thông tin cần thiết như là username, password, email là bạn có ngay 1 OB với đầy đủ các tính năng Forums, Blogs, Photo albums, Group, Rating and Reviewing… đặc biệt với dung lượng 300MB hấp dẫn cho phép bạn lưu trữ hình ảnh, file cần thiết. Trái ngược hẳn với OB, để đăng ký được 1 Y!360 bạn phải trải qua khá nhiều bước, phải đăng ký 1 tài khoản Y!Mail bằng cách điền tùm lum thông tin. Tóm lại điều này rất bất tiện và gây cảm giác khó chịu với user .

Xét về yếu tố thẩm mỹ, Y!360 lại thua đứt đuôi con nòng nọc . Các bạn dùng Y!Mail cũng biết rồi đấy, quảng cáo lung tung trên màn hình. Y!360 cũng chả kém mấy, tấc đất tấc vàng, tranh thủ từng mili-centimet một. Ngay trong phần quản trị blog nó cũng chả tha, add mấy cái advs vớ vẩn vào nhìn rối mắt bỏ xừ. Còn OB ư, chỉ có 1 logo bé xíu xiu nằm cuối cùng trên sidebar ở bên phải và OB Community ở dưới chân. Ngoài ra chả có 1 quảng cáo nào hết. Nếu thích chúng ta vẫn có thể loại bỏ quảng cáo này được. Yếu tố này làm cho OB sáng sủa và trông dễ nhìn hơn, đỡ bị rối mắt.

Về mặt tính năng + tương tác với user. Yếu tố này cũng 1 phần do tính thẫm mỹ mang lại. Y!360 thua đứt đuôi ở phần trên nên không có lý do gì vượt trội ở phần này. Cả hai dịch vụ Blog (Y!360 và OB) đều có những tính năng chung cơ bản của 1 blog như: post bài, avatar, chỉnh sửa theme, Ignore user, calendar, album, v.v… OB lại có nhiều tính năng cho phép user thoải mái customize theo ý mình, không có cảm giác gò bó như bên Y!360. (Sẽ đề cập chi tiết ở phần sau).

Tiếp theo chúng ta sẽ đi đánh giá từng tính năng chi tiết của Y!360 và OB

2. Post bài
Y!360 có ưu điểm nhúng bộ WYSIWYG editor vào tính năng post bài, giúp cho blogger có thể dễ dàng chỉnh sửa bài viết và trực quan hơn rất nhiều so với việc sử dụng BBcode của OB (phải nhấn Preview xem trước bài viết). Tuy nhiên, để hiển thị đúng tiếng Việt Unicode trên Y!360 bạn phải sử dụng trình duyệt IE7 hay Firefox, Mozilla. Có thể nói đây là 1 nhược điểm lớn của Y!360. Điều này khiến cho cư dân mạng Trung Quốc hay 1 số quốc gia khác sử dụng font Unicode ít sử dụng Y!360. Để có thể type được tiếng Việt Unicode trên Y!360 mà không bị lỗi, tốt nhất bạn nên sử dụng trình duyệt Firefox và chỉnh font mặc định của bài viết về font Unicode như Arial, Times, Verdana. Đương nhiên OB support Unicode rất tốt, tiếng gì cũng chơi cả, từ Anh, Pháp, Đức, Nga, Việt, Trung, Iran… gì cũng support ráo .

Một nhược điểm lớn nữa khiến user cảm thấy bị gò bó khi sử dụng Y!360 là tính năng chèn ảnh vào bài viết. Y!360 chỉ cho phép mặc định chèn 1 ảnh vào đầu mỗi bài viết, còn nếu muốn chèn thêm thì phải add code HTML vào. Trong khi đó với OB, bạn có thể chèn mệt nghỉ… . Một số blogger có nói rằng Y!360 không support HTML trong bài viết như OB. Tuy nhiên, theo “điều tra” của tớ thì Y!360 không chỉ support HTML trong bài viết mà còn support cả CSS nữa. Để sử dụng được tính năng này, khi post bài bạn check vào check box View HTML Source. Tuy nhiên Y!360 chỉ support 1 số tag HTML thông dụng mà thôi (Click vào đây để xem danh sách các tag HTML và CSS mà Y!360 hỗ trợ). Với những tag HTML và CSS properties mà Y!360 hỗ trợ tớ cam đoan với các bạn rằng chúng ta có thể chèn hình nền, chèn ảnh, table vào bài viết với điều kiện là các blogger phải biết HTML và CSS. Dĩ nhiên không thể chèn Flash or Music vào Y!360 rồi. Trong khi đó, OB khá thoải mái với các blogger, support hầu hết các tag HTML nên user có thể thoải mái chèn flash, music, v.v…

Ngoài ra Y!360 còn cho phép bạn tạo bình chọn (poll) trong bài viết, đây cũng là một tính năng hay, giảm bớt phần đơn điệu cho blog và đôi lúc cũng rất cần thiết.

3. Album
Cả hai dịch vụ đều support tính năng album ảnh. OB cho phép chèn ảnh có trong album trực tiếp ngay trong bài viết. Y!360 sử dụng Y!Photo để quản lý album nên các bạn không thể chèn ảnh trong ablum vào bài viết được. Nhìn chung tính năng album của cả 2 bên là như nhau, Y!360 hiển thị 1 vài ảnh trên blog của bạn trong khi đó OB hiển thị tất cả ảnh trong album lên blog dưới dạng slide show cũng khá đẹp.

4. Friends list
Y!360 và OB đều cho phép các blogger tạo friends list bằng cách gửi message invite. Y!360 hiển thị friend list ngay trên blog còn OB có hẳn 1 mục để hiển thị friend list. Với mục tiêu tạo ra 1 Opera Community khổng lồ, OB bổ sung thêm tính năng xem friends of friends list giúp cho các blogger không còn cảm thấy cô độc khi xài dịch vụ này .

5. Tags
OB có chức năng phân loại bài viết theo tags khá hay. Thoạt nhìn, với các user lần đầu sử dụng có vẻ ít thấy được tiện ích của tính năng này, tuy nhiên qua 1 thời gian sử dụng tớ thấy tính năng này rất hay. Tags cho phép các bạn phân loại các bài viết trên blog ra thành các chuyên mục. Điều này rất cần thiết cho người xem và cho chính các bloggers nữa. Y!360 không hỗ trợ tính năng này.

6. Access rights
So với Y!360, tính năng này của OB vượt trội hơn hẳn. OB cung cấp cơ chế bảo vệ sự riêng tư cho các blogger rất tốt còn Y!360 khá cứng nhắc. Y!360 chỉ cho phép bạn thiết lập access rights với 2 mức trạng thái là cho xem hoặc không cho phép xem toàn bộ blog (Who can see your blog, Publish site feed, Who can post comments to your blog). OB rất linh động và uyển chuyển, user không những có thể thiết lập access right như bên Y!360 mà còn có thể thiết lập access right cho từng bài viết. Một cảm giác an toàn tối đa cho các blogger khi sử dụng OB với các bài viết có thông tin nhạy cảm

7. Quản lý files
Tính năng này hoàn toàn không có trong Y!360. OB cung cấp cho mỗi user 300MB để lưu trữ, 1 con số khá ấn tượng đấy chứ

8. Tùy biến giao diện (theme)
Cả hai dịch vụ đều cung cấp cho users một số theme có sẵn, so với OB thì số lượng theme có sẵn của Y!360 phong phú hơn, nhưng không thể nói là đẹp. Tâm lý của các blogger muốn blog của mình có nét gì đấy độc đáo, mang đậm cá tính, nói tóm lại là không đụng hàng. Do đó hầu như ít ai sử dụng các theme định sẵn mà tùy biến đi chút ít gọi là phong cách cá nhân. Y!360 cho phép tùy biến giao diện 1 cách trực quan, ai cũng có thể làm được. Tuy nhiên tính tùy biến không nhiều bằng OB. OB cho phép tùy biến theme bằng cách hiệu chỉnh file CSS (nói chính xác hơn là định nghĩa lại). Những tay blogger nào khá khá về CSS chút hoàn toàn có thể tạo cho mình 1 blog mang đậm cá tính. Đây là điểm nổi trội của OB (mặc dù không phải ai cũng có thể tùy biến theme bằng CSS). Cũng chính vì lý do này mà 1 số các blogger của Y!360 chuyển sang xài OB. Không biết, khi update lên bản chính thức, Y!360 có cải tiến tính năng này không? hãy chờ xem! Có lẽ để lôi kéo đuợc nhiều blogger hơn nữa, OB nên chỉnh sửa tính năng Custom Style Sheet bằng CSS sao cho trực quan hơn.

9. Links and Feeds
Tính năng này giúp user tạo các liên kết đến các site khác hoặc add các tin dạng RSS vào blog của mình cho thêm phần phong phú. Chả hiểu sao bên Y!360 tính năng add feed lại ngớ ngẩn 1 cách kỳ lạ, nhiều link RSS định dạng XML không được chấp nhận, thay vào đó link HTML lại được chấp nhận, điều này gây bực mình không ít cho các blogger. Trong khi đó OB lại không support Unicode tốt cho lắm trong tính năng này. Bằng chứng là 1 số link RSS của các site báo Việt Nam bị lỗi font, không hiển thị đúng tiếng Việt.

10. Các tính năng khác
OB bổ sung thêm 1 số tính năng khác như: Spotlights, Countdowns, Forums cũng khá thú vị. Nói chung OB cung cấp khá nhiều tính năng add-on cho các blogger.

Tổng kết
Trên đây chỉ là đánh giá về khía cạnh tổng thể và vài chức năng chủ yếu của 2 nhà cung cấp dịch vụ (có thể chưa đầy đủ hết các tính năng). Với những gì mà OB đã cung cấp, các blogger hoàn toàn có thể hài lòng khi sử dụng dịch vụ này!!!

Cách phân biệt USB “nhái” với hàng thật

(CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT, HÀNG THẬT- HÀNG GIẢ)

Giảm giá chỉ còn 25 - 50% so với trước đây, USB đang là đồ phụ kiện máy tính đắt khách. Tuy nhiên hàng nhái, kém chất lượng nhưng bề ngoài y chang hàng thật cũng theo đó xuất hiện tràn lan khiến người mua rất dễ bị nhầm lẫn.

Hiếm hàng chính hãng

Từ cuối năm 2006, khi các nhà sản xuất giảm mạnh giá thành USB, thị trường của thiết bị lưu trữ mini này sôi động hơn hẳn. Không những thế, USB với nhiều kiểu dáng, màu sắc và các loại dung lượng khiến người mua tha hồ lựa chọn.

Tuy nhiên theo nhận định của anh Nguyễn Đức Thịnh, nhân viên kinh doanh của Siêu thị USB, 811 La Thành, Hà Nội thì hàng chính hãng USB đang khá hiếm dù cho thị trường của nó đang rất phong phú và muôn màu, muôn vẻ.

USB đang là phụ kiện máy tính “hút” khách.

Nguyên nhân chính là sự chiếm lĩnh ngày càng hùng mạnh của USB “nhái” kém chất lượng nhưng mẫu mã y như hàng chính hãng.

Chị Thủy, quản lý cửa hàng linh kiện máy tính 97 Lý Nam Đế, cho biết mấy tháng trước, chị nhập về một lô hàng USB hãng Adata Jorg với giá trên dưới 200.000 đồng đối với các loại 512 MB, 1 GB, 2 GB. Số hàng này được tiêu thụ rất nhanh nhưng ngay sau đó, lượng người mua kéo đến bảo hành khá đông khiến chị “phát sợ”. Từ đó, để giữ uy tín với khách hàng, chị chỉ nhập về cửa hàng duy nhất USB của hãng Imation mà theo chị “ít bị làm nhái nhất”.

Theo những người kinh doanh phụ kiện máy tính, USB “nhái” chính là hàng Tàu rẻ hơn hàng chính hãng từ 3 - 5 USD, hình thức bao bì mẫu mã giống y hệt nhưng chất lượng là kém hơn hẳn. Để kiếm lời, không ít người bán hàng đã nhập loại hàng này về.

Cách Phân biệt hàng thật, hàng giả

Dọc những con phố chuyên bán linh kiện, phụ kiện máy tính như Lý Nam Đế, Thái Hà, Lê Thanh Nghị, mặc dù các chủ cửa hàng đều cam đoan “hàng chính hãng đảm bảo chất lượng” nhưng quan sát kỹ ở một số hàng vẫn thấy USB “nhái” nằm điềm nhiên bên những USB “xịn”, rất khó phân biệt mà giá cả ngang nhau.

Anh Phạm Quốc Cường, nhân viên bán hàng có kinh nghiệm của công ty máy tính Trần Anh chia sẻ cách phân biệt “trắng đen” hàng USB: “USB hay được làm nhái nhất các hãng Adata Jorg, Kingston, Transcend vì những loại này thông dụng và được người tiêu dùng biết đến hơn cả.

USB chính hãng có serial của nhà sản xuất, trước kia serial được dán bằng giấy bóng lên sản phẩm nhưng hiện tại một số hãng đã dập thẳng code bằng mực chống nhòa lên sản phẩm, trong khi đó, hàng “nhái” thường không có serial, thông số.

Đối với USB của hãng Adata Jorg, hàng thật có vỏ bọc nhựa bên ngoài liền khối trong khi hàng nhái là 2 mảnh ghép nối rời, màu đậm hơn.

Đối với USB của hãng Kingston, khách hàng cần chú ý đến viền của chúng. Tất cả đều thân trắng, không hỗ trợ đĩa drive cho Win 98. 128 MB viền đỏ, 256 MB viền xanh lá cây, 512 MB viền xanh tím than, 1 GB viền xám, 2 G viền xanh nõn chuối. Hàng nhái thường có viền khác màu hay có hỗ trợ đĩa drive”.

Theo VTC

Lễ hội Vespa – Đà Lạt

Đây là một sự kiện văn hóa độc đáo, lần đầu tiên được tổ chức tại thành phố cao nguyên nhân kỷ niệm 30/4 và 1/5. Lễ hội còn mang ý nghĩa là bước mở đầu cho các hoạt động hướng tới Festival Hoa Đà Lạt cuối năm nay.

VESPA Viet Nam

Vượt khỏi “những ràng buộc phương tiện”, Lễ hội Vespa Đà Lạt đã vươn tới tính văn hóa đặc trưng của một thú chơi, thú sưu tầm của những người đam mê loại xe cổ có nguồn gốc từ nước Ý.

VESPA Viet Nam VESPA Viet Nam

Sau lễ khai mạc với sự xuất hiện ấn tượng của “Người đẹp Vespa TPHCM” - MC Đỗ Thụy của Đài Truyền hình TPHCM trên chiếc Vespa kết đầy hoa, 21 câu lạc bộ đã cùng nhau diễu hành vòng quanh hồ Xuân Hương, tạo thành một hình ảnh vô cùng lãng mạn và kỳ thú. Dẫn đầu là đoàn Vespa Đà Lạt. Tiếp theo là đoàn Quảng Ninh, Hà Nội… Và kết lại là cuộc diễu hành hoành tráng của đoàn Vespa TPHCM.

VESPA Viet Nam
“Người đẹp Vespa TPHCM”

VESPA Viet Nam

Tại lễ hội diễn ra các chương trình của như: Lãng mạn Vespa, Nhịp điệu Langbian, Gougah thác ngàn và Đêm dạ hội “Những người yêu Vespa”. Cảnh nhảy múa quanh lửa, thưởng thức rượu cần của đồng bào Lạch của chủ nhân những chiếc xe Vespa cổ và người tham dự hội hứa hẹn sẽ đem lại cho lễ hội nhiều nét độc đáo, hấp dẫn.

Một số mẫu Vespa đẹp tham gia lễ hội:
VESPA Viet Nam VESPA Viet Nam VESPA Viet Nam

VESPA Viet Nam VESPA Viet Nam